Câu chuyện về Socrates khởi đầu từ một lời sấm. Một người bạn của ông tìm đến đền Delphi mà hỏi thần rằng trong thiên hạ có ai khôn ngoan hơn Socrates chăng; nhà tiên tri đáp gọn rằng không một ai. Nghe người ta thuật lại, Socrates chẳng những không mừng mà còn đâm bối rối. Bởi ông tự biết mình nào có thông thái gì cho cam, mà lời thần thì lẽ nào lại sai. Vậy là ông làm một việc rất hợp với tính ông: đem chính lời sấm ấy ra mà dò xét cho ra lẽ. Ông lần lượt tìm đến những bậc được người Athens trọng vọng nhất — nào chính khách, nào thi sĩ, nào người thợ khéo — rồi đem hỏi họ về chính cái điều họ vẫn lừng danh: rằng công lý là gì, cái đẹp là gì, lòng can đảm là gì.
Kết cục lần nào cũng y như nhau: dăm câu hỏi đầu thì còn trôi chảy, đến câu thứ năm thứ sáu thì người đối đáp đã rối như mớ bòng bong. Hóa ra những tiếng ấy họ dùng cả đời mà chưa từng thật hiểu. Đến đây Socrates mới vỡ lẽ ý của thần: ông hơn người ta vẻn vẹn ở một điểm — họ không biết mà cứ ngỡ mình biết, còn ông không biết thì biết rõ là mình không biết. Một điểm nhỏ ấy thôi mà hóa ra cách nhau cả một trời, bởi kẻ đã ngỡ mình biết rồi thì có bao giờ chịu học thêm được nữa. Thế mới thấy, bước đầu của sự học chẳng phải là thu nạp cho nhiều, mà trước hết là dọn cho sạch cái ảo tưởng rằng mình đã đủ đầy.
Cái lẽ ấy, phương Đông ta cũng sớm thấu. Đức Khổng Tử xưa dạy học trò rằng “tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã” — biết thì nhận là biết, không biết thì nhận là không biết, thế mới thật là biết. Một người ở trời Tây, một người nơi cõi Đông, sống cách nhau muôn dặm mà gần như cùng một thời, vậy mà rốt cuộc cùng gặp nhau ở một chỗ: cái khôn ở đời chẳng cốt ở biết cho nhiều, mà cốt ở tấm lòng thành thật dám nhận lấy chỗ mình chưa biết.
Người đỡ đẻ cho tư tưởng
Mẹ Socrates làm nghề bà đỡ, nên ông hay nói vui rằng mình cũng nối được cái nghiệp của mẹ, có khác chăng là ông đỡ đẻ cho tư tưởng. Ông không hề đem đáp án ra mà thuyết giảng; ông chỉ hỏi, rồi hỏi nữa, dồn người đối thoại đến chỗ tự trông thấy chỗ mâu thuẫn ngay trong đầu mình, để rồi tự sinh hạ lấy một ý nghĩ chín chắn hơn. Cái lối ấy, đời sau gọi là phương pháp Socrates, đặt trên một niềm tin sâu xa: chân lý vốn chẳng phải thứ rót được từ thầy sang trò, nó đã sẵn nằm trong mỗi người, chỉ chờ một câu hỏi đúng để chào đời. Có điều, cái giá phải trả là cơn đau đẻ, vì nào ai ưa bị lột trần cái ảo tưởng của mình ngay giữa chợ. Suốt mấy chục năm, thành Athens nhẫn nại chịu đựng “con ruồi trâu” của mình — kẻ ngày ngày châm chích cho cả thành khỏi ngủ quên trong tự mãn — rồi cũng đến lúc hết kiên nhẫn: năm 399 trước Công nguyên, tòa án năm trăm lẻ một công dân khép ông vào án tử. Bạn bè đã lo liệu xong xuôi đường vượt ngục, vậy mà ông một mực chối từ; bởi với ông, sống mà phản lại điều mình tin thì còn cay đắng hơn cả chén thuốc độc. Thế mới hay, có những người coi cái khí tiết trọng hơn cả mạng sống của mình.
Đức hạnh là một tri thức
Cái khí tiết điềm nhiên trước cái chết ấy, người đời sau lắm kẻ lấy làm khó hiểu; nhưng nó không phải sự ương ngạnh nhất thời, mà bắt rễ từ một niềm tin Socrates ôm giữ trọn đời: rằng đức hạnh thật ra cũng là một thứ tri thức. Theo ông, hễ một người đã thấu hiểu tận nơi thế nào là điều thiện thì tự khắc không sao làm điều ác được nữa, cũng như kẻ đã trông tỏ bờ vực thì chẳng còn dại dột bước chân vào. Vì lẽ đó ông mới quả quyết một câu nghe qua thật lạ tai: chẳng có ai cố tình làm điều xằng cả. Ắt có người vặn lại: đời thiếu gì kẻ biết rõ là quấy mà vẫn cứ làm? Socrates đáp rằng cái biết ông nói đây không phải thứ biết đầu môi, gọi được tên điều thiện mà lòng chưa thấm; phải thấu đến tận nơi, thấy rõ làm điều ác trước hết là tự hại chính mình, thì người ta mới không tài nào nhúng tay vào được. Kẻ làm bậy, xét cho cùng, chỉ vì chưa biết đến mức ấy — ngỡ cái lợi trước mắt là điều hay, mà không hay nó đang ngấm ngầm đục ruỗng chính mình.
Từ một lẽ ấy, ông rút ra điều khiến cả thành Athens phải chột dạ: gây điều bất công cho người khác kỳ thực là tự rước cái hại lớn nhất về cho phần hồn của mình, cho nên thà chịu thiệt còn hơn ra tay làm điều quấy. Của cải, danh vọng, đến cả tấm thân, thảy đều là vật ngoài thân; cái đáng chăm nom hơn hết thảy là giữ cho cái tâm mình đừng méo mó. Hiểu tới đây thì mới tỏ vì sao chén thuốc độc kia chẳng dọa nổi ông: trốn đi mà phản lại lẽ phải mình đã trông thấy, thì cái đánh mất còn lớn hơn cả tính mạng — ấy là cái phần lương thiện trong chính mình.
Đến đây ta gặp một điều thoạt nghe như mâu thuẫn: một người suốt đời nhận mình không biết gì, cớ sao lại dám đem cả tính mạng ra giữ lấy một niềm tin? Số là cái không biết của ông vốn là sự khiêm nhường trước những điều lớn lao khó tỏ — công lý trọn vẹn là gì, cái đẹp tự thân ra sao — chứ chẳng phải thói ngờ vực hết thảy. Còn đến chuyện phải trái ngay trong lòng mình, ông lại vững như bàn thạch: thà chịu chết chứ không chịu nhúng tay vào điều mình đã rõ là quấy. Thế mới thấy, ở Socrates, sự học và sự làm người vốn chỉ là một: học cho biết lẽ phải, rốt lại cũng để mà sống cho phải mà thôi.
Đời sống không tự tra vấn là đời sống không đáng sống
Socrates chẳng để lại lấy một trang sách, vậy mà nền học vấn khai phóng nào về sau cũng còn mang dấu tay ông. Mà có lẽ chưa thời nào người ta cần đến ông như thời này. Cõi mạng ngày nay đem tiền tài, đem tiếng tăm mà thưởng cho những lời chắc như đinh đóng cột, ai nói càng to càng được, còn kẻ chịu ngờ vực chính mình thì hóa ra thua thiệt. Giữa buổi người người tự phụ rằng mình đã tường tận hết thảy, câu nói của ông già chân đất nghe lại như một nếp khôn xưa mà người đời đã bỏ quên: ấy là biết dừng lại một khắc trước khi mở miệng, tự hỏi lấy mình rằng điều mình sắp nói ra đó, mình có thật đã biết hay chưa. Cho nên cái học của Socrates rốt cuộc dạy ta một đức tính ở đời: biết khiêm cung mà ngờ lấy chính mình, ấy mới là cửa ngõ của mọi sự khôn ngoan.
Nguồn câu trích: Plato, Biện giải của Socrates (38a)