Thế giới cổ đại · 700 TCN – 250

Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông

Ἡράκλειτος

Ai đã từng lội xuống một dòng sông, bước lên bờ, rồi lội xuống một lần nữa, hẳn có lúc nhận ra một điều nhỏ mà lạ. Vẫn là cái tên sông ấy, vẫn khúc quanh ấy, nhưng nước đã là nước khác, phù sa đã là phù sa khác; mà nói cho cùng, đến chính ta cũng đã khác rồi, già thêm được vài khắc, trong đầu vừa thoáng qua bao nhiêu ý nghĩ. Từ một chuyện tưởng chừng vặt vãnh như thế, Heraclitus xứ Ephesus rút ra một lời vào hàng táo bạo bậc nhất của triết học thời cổ: panta rhei — vạn vật đều chảy.

Muốn thấy lời ấy táo bạo nhường nào, ta hãy nhìn lại những bậc đi trước. Thales cùng các bậc ở Miletus từng nêu lên câu hỏi khai sinh ra triết học: vạn vật rốt cuộc làm bằng gì? Thales bảo là nước, Anaximenes bảo là khí; song nước hay khí thì cũng vậy, ai nấy đều đi tìm một chất nền bền vững, đứng yên, nằm lặng dưới mọi đổi thay. Đến Heraclitus, ông vẫn hỏi câu hỏi ấy mà lật ngược hẳn lời đáp. Theo ông, cái nằm dưới muôn vật nào phải một chất bền vững nào; cái nằm dưới muôn vật, chính là sự đổi thay. Cho nên ông chẳng chọn nước, chẳng chọn khí, mà chọn lửa làm bản nguyên, tức arche, cái gốc đầu tiên sinh ra muôn loài.

Chọn lửa như vậy là một ý thật sâu sắc. Hãy ngắm kỹ một ngọn lửa mà xem: nó còn cháy được là nhờ luôn tự đốt lấy mình, hết nuốt củi mới lại thiêu cái cũ để bùng lên cái mới, không một khắc nào chịu đứng yên mà vẫn cứ là nó. Ngọn lửa “đứng yên” là ngọn lửa đã tắt. Nước thì để yên đó vẫn cứ là nước, còn lửa thì khác hẳn, hễ thôi cháy là tắt, là không còn là lửa nữa. Bởi vậy, chọn lửa làm nền cho muôn vật tức là nói rằng tận đáy sâu, thế giới không phải một vật nằm yên, mà là một dòng chảy không thôi. Thế mới hay, chính cái người ta vẫn sợ, là tàn lụi, là mất mát, lại là cái khiến cho thế gian được sống.

Trật tự giấu trong dòng chảy

Nghe đến đây, dễ tưởng Heraclitus muốn bảo muôn vật chỉ là một mớ hỗn loạn. Nhưng ngẫm cho kỹ thì ngược lại mới đúng. Ông trỏ vào những cặp tương phản — ngày với đêm, đói với no, chiến tranh với hòa bình — mà rằng chúng chẳng tiêu diệt nhau, trái lại còn cần đến nhau, tựa như hai đầu dây cung phải kéo ngược chiều thì mũi tên mới bay đi được. Đằng sau cái thế giằng co muôn thuở ấy là một trật tự chung mà ông gọi là logos. Logos trong tiếng Hy Lạp vốn nghĩa là lời, là lẽ, là cái quy luật con người có thể nói ra và lấy trí mà hiểu được; cũng chính từ chữ ấy, về sau phương Tây mới có chữ logic, tức luận lý, cùng cái đuôi -logy trong tên gọi của muôn ngành học. Heraclitus là người đầu tiên gọi tên cái lẽ ấy: dưới bề mặt đổi thay rối ren, vũ trụ vẫn vận hành theo một trật tự kín, ai biết lắng thì nghe ra.

Mỗi sớm mai là một mặt trời mới

Lời tuyên bố ấy của Heraclitus, người sau kẻ chê người trọng, song chẳng một ai bỏ qua được. Parmenides liền đứng ra cãi lại, bảo rằng cái thật sự tồn tại thì phải bất biến, còn đổi thay chẳng qua là ảo giác của giác quan; thế là cuộc giằng co giữa một bên bảo vạn vật đều chảy, một bên bảo vạn vật đứng yên đã thành một trong những mối tranh biện lớn nhất của siêu hình học, dằng dai mãi đến tận Plato. Về sau, phái Khắc kỷ lại nhận lấy chữ logos của ông làm cốt cho cả một lối sống; còn bản thân chữ ấy thì đến nay vẫn sống trong tiếng “logic” của người đời.

Nhưng cái Heraclitus để lại còn sâu hơn một thuật ngữ hay một cuộc tranh cãi. Ông là người đầu tiên dám nhìn thẳng vào đổi thay mà không coi đó là vết rạn của thế gian: đổi thay nào có phá hỏng cõi đời, đổi thay vốn chính là cách cõi đời tồn tại. Cho nên đứng bên bờ mà tiếc cho dòng nước vừa trôi cũng vô ích như trách ngọn lửa sao cứ cháy; cái khôn ngoan xưa nay rút lại cũng chỉ ở một điều: hiểu rằng trên đời, cái duy nhất không bao giờ đổi, chính là lẽ đổi thay.

Nguồn câu trích: Mảnh rời (Diels–Kranz B6)

Chân dung Heraclitus — bản khắc "triết gia khóc", Dupin khắc theo Bernard Picart
Dupin khắc theo Bernard Picart — Wellcome Collection, giấy phép CC BY 4.0

Heraclitus

Ἡράκλειτος

khoảng 535–475 TCN

Heraclitus vốn sinh trong một dòng dõi quý tộc coi giữ đền thờ ở Ephesus (nay thuộc đất Thổ Nhĩ Kỳ), nhưng ông nhường lại tước vị cho em để được rảnh rang mà suy tư. Tính ông khinh bạc, chê cả Homer lẫn Pythagoras, lại viết một cuốn sách cô đọng và hiểm hóc đến nỗi người đời đặt cho ông biệt hiệu là "Người Tối Nghĩa", rồi đem gửi sách ấy vào đền Artemis dường như có ý thách hậu thế giải cho ra. Tương truyền đến cuối đời ông lánh mình lên núi mà sống ẩn dật.

Tác phẩm chính

  • Bàn về tự nhiên (chỉ còn lại hơn một trăm mảnh rời được người sau trích dẫn)