Phục hưng & Lý tính · 1500 – 1750

Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại

Renatus Cartesius

Mùa đông năm 1619, một người lính trẻ người Pháp vì tuyết lớn mà kẹt lại ở miền nam nước Đức, trú trong một căn phòng nhỏ ấm sực hơi lò sưởi. Bấy giờ ông mới hai mươi ba tuổi. Không bạn bè qua lại, cũng chẳng có việc gì phải lo, René Descartes ngồi suốt ngày một mình với những ý nghĩ của chính mình. Rồi ông nảy ra một ý: thử gạt bỏ hết thảy những điều xưa nay mình vẫn đinh ninh là đúng, xem trong đó còn sót lại điều nào đứng vững được hay không.

Phương pháp ấy ông gọi là hoài nghi triệt để — nghĩa là ngờ cho đến tận cùng. Hãy thử lần lượt mà xét. Giác quan chăng? Giác quan đã từng đánh lừa ta — cây gậy thẳng nhúng xuống nước trông như gãy — mà kẻ đã lừa ta một lần thì khó lòng tin được trọn vẹn. Thế giới bày ra trước mắt chăng? Trong giấc mơ ta cũng từng thấy muôn vật y như thật, vậy lấy gì bảo đảm rằng lúc này đây ta không đang nằm mơ? Ông còn đẩy mối ngờ đi xa hơn nữa: ví thử có một con quỷ lừa dối quyền phép vô biên, chuyên đem ảo ảnh bơm vào tâm trí ta, thì bầu trời, mặt đất, cho đến cả tấm thân này cũng đều có thể là giả dối cả.

Thế nhưng, đúng vào lúc muôn vật như sụp đổ hết, ông lại chạm phải một điều không tài nào sụp đổ được. Con quỷ kia muốn lừa thì tất phải có một ai đó để mà lừa. Ta có thể ngờ hết thảy mọi sự, song có một điều ta không thể ngờ: ấy là chính ta đang ngờ — bởi cái việc ngờ vực ấy tự nó đã là một hành vi tư duy rồi. Cogito, ergo sum — tôi tư duy, vậy tôi tồn tại. Trên cái nền chắc chắn tuyệt đối ấy, Descartes tin rằng mình có thể dựng lại cả tòa nhà tri thức của nhân loại, mạch lạc chặt chẽ như hình học suy ra từ vài điều tiên đề. Thế mới thấy, chỗ vững chãi nhất của hiểu biết nhiều khi không ở đâu xa, mà ở ngay trong việc ta dám quay về tự xét lấy mình.

Cái giá của nền tảng đầu tiên

Song một điểm tựa nhỏ nhoi như vậy, làm sao đỡ cho nổi cả tòa tri thức? Đến đây Descartes bèn viện tới Thượng Đế. Ông lập luận rằng trong trí người ta sẵn có ý niệm về một đấng toàn hảo, mà đã toàn hảo thì quyết không lừa dối; vậy nên hễ điều gì ta nhận thức thật rõ ràng, rành mạch thì điều ấy ắt đúng — nhờ vậy con quỷ lừa dối bị xua đi, thế giới cùng giác quan được rước trở lại. Có điều, người đời sau liền vạch ra một cái vòng luẩn quẩn: ông lấy cái lý trí sáng rõ làm bằng cứ để chứng minh Thượng Đế, rồi lại mượn chính Thượng Đế để bảo chứng cho lý trí sáng rõ ấy — hai bên hóa ra tựa vào nhau mà đứng. Thế mới biết, phá bỏ hết thảy để xây lại từ nền tuy là chí khí lớn, song cũng là chỗ hiểm: muốn không còn phải ngờ gì nữa, rốt cuộc người ta vẫn phải đặt lòng tin vào một điều gì đó.

Nhưng vết nứt khiến người đời sau bận lòng hơn cả lại nằm ở một chỗ khác. Nếu điều chắc chắn duy nhất là tâm trí, thì tâm trí với thân thể ắt phải là hai thứ khác loài: một bên là tinh thần, vốn không chiếm chỗ trong không gian; một bên là vật chất, vận hành theo định luật cơ học — ấy là thuyết nhị nguyên tâm – thân, nói nôm là tách hồn với xác làm hai. Song le, nếu đã tách đôi như vậy thì làm sao một ý định vô hình lại sai khiến nổi cánh tay bằng xương bằng thịt giơ lên? Descartes đoán rằng nơi hồn với xác gặp nhau là tuyến tùng trong não — nhưng lời ấy hầu như chẳng mấy ai chịu nghe. “Bài toán tâm – thân” kia đến nay vẫn chưa có lời giải chung cuộc.

Nhị nguyên tâm–thân: nửa mặt người là tâm trí vô hình, nửa kia là cỗ máy bánh răng của thân xác; một chấm son nơi tuyến tùng là chỗ hai bên gặp nhau.
Nửa này là tâm trí vô hình, nửa kia là thân xác vận hành như cỗ máy bánh răng; Descartes đoán hồn với xác gặp nhau nơi tuyến tùng trong não — ấy là chấm son ngay đường ranh giữa hai bên.

Muốn tìm chân lý, mỗi người ít nhất một lần trong đời phải hoài nghi mọi sự

Bốn trăm năm đã qua, mà những câu hỏi nhóm lên trong căn phòng có lò sưởi ấy vẫn chưa tắt. Descartes đã đem cả tòa tri thức đặt lên một điểm duy nhất là cái “tôi” đang tư duy; nhưng hễ lấy riêng cái tôi làm chỗ đứng, thì thế giới ngoài kia, tấm thân này, cho đến người ngồi ngay bên cạnh, thảy đều hóa thành những điều phải đi chứng minh lại từ đầu. Đến nay, khi một cỗ máy biết nói buông ra câu “tôi đang suy nghĩ”, ta lại lúng túng đúng vào chỗ ông từng đứng thuở nào, chẳng biết lấy gì mà phân định thật giả. Thế mới thấy một chỗ gặp nhau lạ lùng giữa Đông và Tây: Descartes đi tìm sự chắc chắn bằng cách bám chặt lấy cái tôi, trong khi nhà Phật hay Trang Tử lại đi tìm sự thanh thản bằng cách buông cái tôi ấy ra. Một bên dựng nhà trên cái tôi, một bên cởi dần cái tôi đi; mà ngẫm cho cùng, hai lối ngược chiều ấy vẫn đang loay hoay quanh cùng một câu hỏi Descartes nêu lên giữa mùa đông năm nọ — rốt cuộc, cái “tôi” ấy là gì.

Nguồn câu trích: Các nguyên lý triết học (1644), I

Chân dung René Descartes — tranh sơn dầu theo Frans Hals
Theo Frans Hals (khoảng 1649–1700) — phạm vi công cộng, Wikimedia Commons (bảo tàng Louvre)

René Descartes

Renatus Cartesius

1596–1650

René Descartes sinh ở miền trung nước Pháp, thuở nhỏ học nơi trường dòng Tên, lớn lên lại gác sách vở mà đi “đọc cuốn sách lớn của thế giới”: làm lính, ruổi rong khắp châu Âu, sau cùng về ẩn cư ở Hà Lan hơn hai mươi năm, chỉ cốt yên tĩnh để suy nghĩ và viết. Ông đồng thời là một nhà toán học lớn — hệ tọa độ Descartes đến nay vẫn mang tên ông. Năm 1649, ông nhận lời sang dạy triết cho nữ hoàng Thụy Điển là Christina; bà bắt ông dậy từ lúc năm giờ sáng giữa mùa đông Bắc Âu, được ít tháng thì ông nhuốm bệnh viêm phổi mà qua đời.

Tác phẩm chính

  • Phương pháp luận (1637)
  • Suy niệm siêu hình học (1641)
  • Các nguyên lý triết học (1644)