Thế giới cổ đại · 700 TCN – 250

Số là chúa tể của hình thể và ý niệm

Πυθαγόρας

Người đời vẫn kể về Pythagoras một câu chuyện nhỏ. Một hôm đi ngang lò rèn, ông nghe mấy chiếc búa nện xuống đe, tiếng thì hợp tai êm ái, tiếng lại chối tai khó nghe. Ông dừng lại để ý, mới ngờ rằng những chiếc búa nghe thuận tai nhau có trọng lượng ăn theo những tỉ lệ giản dị. Về nhà ông căng một sợi dây mà thử lại cho chắc — và quả nhiên: chia dây theo tỉ lệ hai trên một thì được quãng tám, theo ba trên hai thì được quãng năm, cứ thế mà ra cả một thang âm. Cái khiến tai người thấy hay, hóa ra chẳng phải phép màu gì, mà gói gọn trong mấy con số. Mà cái đẹp của âm thanh đã quy về được con số như thế, thì Pythagoras ngờ rằng muôn vật khác trên đời cũng quy về được như vậy.

Phải biết rằng những người đi trước ở Miletus, từ Thales trở đi, đều mải đi tìm một lời đáp cho câu hỏi: vạn vật rốt cuộc làm bằng chất gì — nước, hay khí, hay một thứ vô hình nào đó. Pythagoras chuyển hẳn câu hỏi sang một hướng khác. Ông thôi hỏi vạn vật làm bằng gì, mà hỏi vạn vật được sắp đặt theo lẽ nào; và lời đáp của ông là con số. Vạn vật đều là số — đó là lời quả quyết táo bạo vào hàng bậc nhất mà ông để lại cho đời. Với phái Pythagoras, con số không phải thứ bày ra để đếm cho tiện, mà là cái khuôn ngầm định hình nên mọi vật: số một là một điểm, số hai vạch thành đường, số ba mở ra mặt phẳng, số bốn dựng nên khối — từ con số mà ra cả hình hài của thế gian.

Họ tôn sùng nhất con số mười, gọi nó là tetractys: mười chấm xếp thành hình tam giác, hàng trên cùng một chấm, rồi hai, rồi ba, rồi bốn, cộng lại vừa tròn mười. Trong con mắt họ, cái hình tam giác bé nhỏ ấy gói trọn trật tự của cả trời đất, thiêng đến mức môn đồ đem nó ra mà thề thốt với nhau. Thế mới thấy, với người Pythagoras, học toán không phải để tính toán hơn thiệt, mà là một lối chiêm nghiệm cái lẽ huyền vi của vũ trụ.

Định lý mang tên ông

Trong hết thảy những gì gắn với tên Pythagoras, lừng danh hơn cả là cái định lý về tam giác vuông. Người Ai Cập thuở xưa vốn đã biết một mẹo nhà nghề: cứ lấy ba cạnh dài theo tỉ lệ ba — bốn — năm mà ghép lại thì được một góc vuông chằn chặn, rất tiện cho việc dựng đền đài, chia ruộng đất. Có điều họ chỉ biết là nó đúng, chứ chưa hỏi vì sao lại đúng. Pythagoras — hoặc môn đồ của ông — bước thêm một bước có tính quyết định: chứng minh rằng với mọi tam giác vuông, không chừa cái nào, hình vuông dựng trên cạnh huyền bao giờ cũng bằng tổng hai hình vuông dựng trên hai cạnh góc vuông. Một điều đúng cho vô vàn trường hợp chưa ai từng vẽ ra, vậy mà rút được chỉ bằng sức suy của lý trí — với ông, đó chẳng khác nào một mặc khải của thần linh.

Chính ở chỗ này mà toán học nơi ông hóa thành triết học. Nếu một lẽ giản dị về con số đã có thể chi phối hết thảy tam giác vuông trên đời, kể cả những cái còn chưa sinh ra, thì hẳn đằng sau cái vẻ muôn hình muôn vẻ của thế gian cũng phải có những quy luật bền vững như thế đang âm thầm cai quản. Từ một định lý về hình tam giác, Pythagoras đi tới một niềm tin về cả vũ trụ; và ông tin cái trật tự ấy con người có thể lần ra được bằng lý trí, từng bước một, đi từ những lẽ hiển nhiên không ai chối cãi — đúng cái lối lập luận mà về sau Euclid thừa kế rồi nâng thành khuôn phép cho toán học suốt mấy nghìn năm.

Với mọi tam giác vuông, hình vuông dựng trên cạnh huyền bằng tổng hai hình vuông dựng trên hai cạnh góc vuông — a² + b² = c². Cứ lấy tam giác 3–4–5 mà xem: 9 + 16 = 25.

Hòa âm của các tầng trời

Đã tìm thấy con số trong tiếng đàn, Pythagoras đưa mắt lên trời. Ông ngờ rằng các vì sao, các hành tinh cũng chuyển vần theo những tỉ lệ hệt như dây đàn, và trong khi xoay vần như thế, chúng ngân lên một thứ nhạc — thứ nhạc mà tai phàm không nghe thấy, ông gọi là hòa âm của các tầng trời. Cái ý ấy nghe thật mơ mộng, vậy mà nó cắm rễ sâu trong óc người phương Tây suốt hơn hai nghìn năm: mãi đến năm 1619, nhà thiên văn Kepler vẫn còn mải đi tìm cái “âm nhạc vũ trụ” kia, để rồi nhờ vậy mà dò ra được những quy luật thật của hành tinh.

Mà nào chỉ có nhà trời. Mãi đến năm 1865, nhà hóa học John Newlands xếp các nguyên tố theo khối lượng, chợt nhận ra cứ cách tám bậc thì tính chất lại trở lại như cũ; ông gọi đó là “định luật bát độ”, mượn thẳng chữ của nhà nhạc lý — và đó là một trong những bước đầu dẫn tới bảng tuần hoàn các nguyên tố ta dùng ngày nay. Cái linh cảm của Pythagoras, rằng vũ trụ ngân nga theo những tỉ lệ và nhịp tuần hoàn, hóa ra đã đi trước thời đại đến hơn hai nghìn năm.

Quan trọng hơn cả, từ chỗ thấy con số cai quản được cả tiếng đàn, hình khối lẫn đường đi của các vì sao, Pythagoras rút ra một niềm tin về sau lan đi rất xa: rằng cái trí khôn trừu tượng đáng tin hơn những gì mắt thấy tai nghe. Plato tiếp lấy chính niềm tin ấy mà dựng nên Học thuyết Ý niệm; và hơn hai nghìn năm sau nữa, mỗi nhà vật lý đặt bút viết một phương trình để tóm lấy một mảng của thế giới đều đang đi tiếp con đường ông mở.

Cũng nên nhớ rằng Pythagoras vừa là nhà toán học, vừa là một bậc thầy tín ngưỡng. Ông tin linh hồn cứ luân hồi từ kiếp này sang kiếp khác. Ấy chính là cái thuyết luân hồi mà người phương Đông ta quen nghe nơi cửa nhà Phật, vậy mà ở đây đã thấy nơi một bậc hiền Hy Lạp từ thuở triết học phương Tây còn phôi thai. Với ông, chiêm nghiệm cái trật tự vĩnh hằng của con số chính là một lối tu để gột rửa tâm hồn cho trong sạch. Hai con người trong ông — nhà khoa học lạnh lùng và nhà huyền học mộ đạo — tưởng như nghịch nhau, nhưng với ông vốn chỉ là một, cùng đi tìm cái trật tự ẩn nấp dưới muôn vật.

Trong tiếng ngân của dây đàn có hình học, trong khoảng giữa các tầng trời có âm nhạc

Ngày nay không còn ai tin các hành tinh ngân nhạc, cũng chẳng mấy người theo những điều kiêng khem của hội Pythagoras nữa. Nhưng cái niềm tin cốt lõi của ông thì vẫn sống, lại còn sống mạnh hơn bao giờ hết: rằng đằng sau cái vẻ ngổn ngang của thế giới có một trật tự, mà trật tự ấy được viết bằng ngôn ngữ của con số, hễ ai chịu khó học thì đọc ra. Cả nền khoa học sau này dựng lên trên đúng một niềm tin như thế. Vì lẽ đó, đôi khi chỉ một người ngồi gảy đàn mà để tâm tới mấy con số, lại vô tình chạm tay vào được cái lẽ vận hành của cả đất trời.

Nguồn câu trích: Tương truyền là lời của Pythagoras

DÒNG SUY LUẬN Vạn vật đều là số BẮT ĐẦU TỪ TIẾNG ĐÀN gảy dây, chia theo tỉ lệ giản dị 2:1 3:2 4:3 quãng tám quãng năm quãng tư 1 Vạn vật trong vũ trụ đều tuân theo những quy luật và tỉ lệ của toán học. 2 Vậy nên hễ hiểu được con số cùng các quan hệ toán học giữa chúng… 3 …là ta hiểu được chính cái cấu trúc của vũ trụ. 4 Toán học, vì thế, trở thành khuôn mẫu cho tư duy triết học. KẾT LUẬN SỐ LÀ CHÚA TỂ CỦA HÌNH THỂ VÀ Ý NIỆM
Chân dung Pythagoras — tượng bán thân bằng đá cẩm thạch, bản La Mã chép lại
Galilea (2005) — phạm vi công cộng, Wikimedia Commons; tượng bán thân bản La Mã, Bảo tàng Capitoline (Roma)

Pythagoras

Πυθαγόρας

khoảng 570–495 TCN

Pythagoras sinh trên đảo Samos ngoài khơi Tiểu Á, thuở trẻ đi nhiều nơi, tương truyền có sang tận Ai Cập học hình học và lễ nghi. Ngoài bốn mươi tuổi ông sang miền nam nước Ý, lập ở Croton một hội vừa là trường học vừa là giáo đoàn: môn đồ có đến vài trăm người, sống chung một nhà, ăn ở kiêng khem, giữ kỷ luật nghiêm và lắm điều bí truyền. Bản thân ông không để lại một chữ nào; như triết gia Porphyrius đời sau than rằng “chẳng ai biết chắc Pythagoras đã dạy môn đồ những gì, vì họ giữ một sự im lặng khác thường” — thành thử lắm điều người sau gán cho ông thật ra có thể là của cả cộng đồng, trong đó có vợ ông là bà Theano cùng các con gái. Về cuối đời, dân Croton trở mặt chống lại hội, ông phải lánh sang Metapontum rồi mất ở đó; đến cuối thế kỷ thứ tư trước Tây lịch thì giáo đoàn ấy cũng tan.

Tác phẩm chính

  • Không để lại trước tác nào — tư tưởng được truyền qua môn đồ (phái Pythagoras) và ghi chép của các tác giả đời sau như Philolaus, Aristoteles và Porphyrius