Thời đại cách mạng · 1750 – 1900

Mỗi người là chúa tể chính mình, chừng nào chưa hại đến ai

John Stuart Mill, người nước Anh, sinh đầu thế kỷ mười chín, có lẽ là người chịu một cuộc giáo dục lạ lùng vào bậc nhất trong giới triết gia. Mới ba tuổi, cậu đã học tiếng Hy Lạp cổ; lên tám đọc Plato từ nguyên bản; mười hai tuổi đã nắm vững phép luận lý. Người cha cùng triết gia Bentham có ý rèn cậu thành một cỗ máy lập luận thật hoàn hảo cho chủ nghĩa công lợi — cái học thuyết cho rằng việc làm đúng là việc đem lại nhiều hạnh phúc nhất cho nhiều người nhất. Thế nhưng đến năm hai mươi tuổi, cỗ máy ấy bỗng rệu rã: Mill rơi vào cơn trầm uất nặng nề. Điều kéo ông dậy lại chẳng phải phép luận lý, mà là mấy vần thơ của Wordsworth. Vì lẽ đó, ngay từ buổi thiếu thời, đời ông đã ngầm dạy một điều: lòng người ta không thể nuôi sống bằng riêng cái lý, mà còn cần đến cả cái tình.

Cú vấp ấy làm đổi cả nếp nghĩ của ông. Mill vẫn giữ niềm tin rằng hạnh phúc là cái thước đo đạo đức, song ông sửa lại lời thầy: hạnh phúc cũng có bậc cao thấp, chứ không phải thảy đều ngang nhau. Niềm vui của một tâm trí được đọc, được nghĩ suy, được rung cảm, xét về phẩm chất khác hẳn cái khoái lạc tầm thường của giác quan. Cho nên với ông, một con người ôm nỗi day dứt của kẻ biết nghĩ vẫn quý hơn con lợn no nê mà chẳng bận lòng gì; ai đã từng nếm trải cả hai bề thì chẳng đời nào chịu hạ mình đổi xuống. Lẽ ấy bên Đông phương Mạnh Tử cũng đã bàn: ai biết theo cái phần lớn trong mình — tức cái tâm biết nghĩ suy — thì nên người cao quý, còn kẻ chạy theo cái phần nhỏ — tức tai mắt ham muốn — thì hóa ra thấp kém. Thế mới hay, dù Đông hay Tây, người ta vẫn trọng cái vui của tâm hồn hơn cái sướng của giác quan.

Hai bậc khoái lạc — cái vui của tâm trí biết nghĩ suy, và cái sướng no đủ của giác quan; với Mill, hai thứ ấy khác nhau cả về phẩm chất, chứ không riêng nhiều ít.

Nguyên tắc tổn hại

Cuốn Bàn về tự do, viết năm 1859, đặt ra một câu hỏi mà ai sống trong xã hội cũng nên ngẫm: rốt cuộc xã hội được phép xen vào đời riêng của một người đến đâu? Mill đáp lại gọn ghẽ và dứt khoát, lời đáp ấy đời sau gọi là nguyên tắc tổn hại. Đại ý là: người ta chỉ được lấy quyền lực mà ép một người làm trái ý họ vì một cớ duy nhất mà thôi — ấy là để ngăn người ấy gây tổn hại cho kẻ khác. Còn viện cớ vì lợi ích của chính người ấy thì không bao giờ là đủ. Vì thế Mill chia việc người ta làm ra hai cõi: có việc chỉ hệ đến riêng mình — ăn gì, đọc gì, tin gì, sống ra sao — thì mỗi người là chúa tể trọn vẹn trên thân thể và tâm trí mình, xã hội không có phần xen vào; lại có việc đụng chạm, gây hại tới người khác, ấy mới là chỗ xã hội có cớ chính đáng mà ngăn. Điều Mill lo sợ hơn cả chẳng phải ông vua bạo ngược đội vương miện, mà là cái bạo quyền của số đông — thứ dư luận vô hình cứ lặng lẽ ép mọi phận người vào chung một khuôn.

Thà làm một Socrates bất mãn còn hơn một kẻ ngốc thỏa mãn

Cũng từ gốc ấy mà ông đứng ra bênh vực quyền tự do ăn nói đến mức quyết liệt khiến người đương thời phải sửng sốt: theo ông, đến cả một ý kiến sai cũng chẳng nên dập tắt. Bởi nếu nó sai, thì chính khi va chạm với nó, chân lý mới phải gắng sức mà tự bảo vệ lấy mình, kẻo không chân lý cứ nằm yên rồi khô cứng lại thành giáo điều. Còn nếu trong nó có lấy một phần đúng, thì bịt miệng nó hóa ra cướp mất của cả loài người cái phần đúng ấy. Cũng với tấm lòng ấy, ông dám đụng tới chỗ mà người cùng thời quen ngoảnh mặt làm ngơ: trong Sự khuất phục của phụ nữ, ông gọi thẳng cái địa vị pháp lý của người đàn bà thời mình là chế độ nô lệ cuối cùng còn rớt lại.

Hơn một thế kỷ rưỡi đã qua, vậy mà mỗi cuộc tranh cãi quanh chuyện kiểm duyệt trên mạng, chuyện vùi dập một người, chuyện ý kiến nào bị cho là “nguy hiểm” mà phải xóa đi — ngẫm cho kỹ, thảy vẫn chỉ là cái chương hai của Bàn về tự do được diễn đi diễn lại. Mill không trao cho ta sẵn một đáp án; ông chỉ trao cho ta một câu hỏi cho đúng chỗ: việc này thật sự làm hại đến ai, hay chẳng qua chỉ khiến ta chướng mắt khó chịu? Thế mới thấy, cái ranh giới của tự do, rốt cuộc nằm gọn ngay trong chỗ ta biết phân biệt giữa điều mình ghét và điều thật sự gây hại.

Nguồn câu trích: Thuyết công lợi (1863), chương II

Chân dung John Stuart Mill — ảnh chụp của John Watkins, 1865
John Watkins (1865) — phạm vi công cộng, Wikimedia Commons

John Stuart Mill

1806–1873

Mill sinh ở London. Ngay từ nhỏ ông đã được cha mình và triết gia Bentham nuôi dạy tại nhà như một cuộc thử nghiệm giáo dục khép kín, không bạn bè, không đồ chơi. Lớn lên, ông vào làm cho Công ty Đông Ấn suốt ba mươi lăm năm, lúc rảnh thì viết triết, và vẫn coi người vợ Harriet Taylor là người cùng mình nghĩ ra những trang hay nhất của đời mình. Về sau làm nghị sĩ, ông là người đầu tiên trong lịch sử Quốc hội Anh dám đề xuất quyền bầu cử cho phụ nữ — để rồi thất bại giữa tiếng cười nhạo của các đồng viện.

Tác phẩm chính

  • Bàn về tự do
  • Thuyết công lợi
  • Sự khuất phục của phụ nữ
  • Tự truyện