Lão Tử, người đời Xuân Thu, xưa nay vẫn được tôn là ông tổ của Đạo gia. Sách vở chép về ông rất mờ, đến cả năm sinh năm mất cũng không ai dám chắc, chỉ còn lại một câu chuyện: một sớm nọ ở cửa ải Hàm Cốc, có ông già cưỡi trâu chậm rãi đi về phía tây, bỏ lại sau lưng cả một vương triều đang mục ruỗng. Viên quan giữ ải nhận ra bậc hiền nhân, vội giữ lại xin một lời dạy. Ông già miễn cưỡng ngồi xuống, viết chừng năm nghìn chữ rồi đi mất hút. Mà lạ thay, ngay dòng đầu của năm nghìn chữ ấy lại là một lời tự dặn dò về chính nó: Đạo khả đạo, phi thường Đạo — Đạo mà nói ra được thì đã chẳng còn là Đạo vĩnh hằng nữa.
Nghe qua tưởng như đánh đố, nhưng ngẫm kỹ thì ý rất sâu. Đạo, dịch nôm là “con đường”, chính là cái nguồn cội vô danh đã sinh ra và nuôi dưỡng muôn loài, là nhịp vận hành của cả trời đất. Mà lời nói của người ta thì cũng tựa như tấm lưới: quăng xuống biển chỉ vớt được dăm con cá, chứ có bao giờ vớt được cả biển. Đem định nghĩa mà nhốt Đạo lại, ấy là biến cái toàn thể đang sống thành một khái niệm chết khô. Vì lẽ đó, Lão Tử không hề giảng giải Đạo cho cặn kẽ, ông chỉ lấy ngón tay trỏ về phía nó bằng những hình ảnh thật giản dị: cái thung lũng nhờ trống không mà chứa được muôn dòng nước, bánh xe nhờ lỗ trống ở trục mà quay được, gian nhà nhờ khoảng không bên trong mà thành chỗ ở. Thế mới hay, chỗ trống rỗng tưởng là vô dụng lại chính là chỗ dùng được.
Vô vi chẳng phải là lười
Từ cách nhìn ấy mà sinh ra lời khuyên nổi tiếng nhất, và cũng dễ bị hiểu lầm nhất, của Đạo gia: vô vi. Vô vi đây không phải nằm khoèo mặc kệ sự đời, mà là làm thuận theo cái thớ của sự vật chứ đừng cưỡng lại nó. Trang Tử về sau kể chuyện người đầu bếp mổ trâu cứ theo thớ thịt mà lách dao, nên mười chín năm lưỡi dao vẫn sắc như mới; còn người chèo đò giỏi thì biết mượn sức dòng nước mà đi, chứ chẳng dại gì đánh vật với nó. Khổng Tử thì hô hào người ta rèn luyện, trau dồi, gắng sức sửa mình sửa đời; Lão Tử lại nhỏ nhẹ hỏi ngược một câu: hay chính cái thói gắng gỏi quá đỗi ấy đã là một thứ bệnh? Ông còn nói thẳng hơn nữa: đại đạo phế, hữu nhân nghĩa — Đạo lớn mất đi rồi người ta mới phải bày ra nhân với nghĩa; chừng lòng người còn thuận theo lẽ tự nhiên thì ăn ở tử tế chẳng cần ai dạy, đến khi phải ra rả rao giảng đạo đức, ấy là dấu cái gốc đã hỏng mất rồi. Cây càng cứng càng dễ gãy trước cơn gió mạnh, mà cái lưỡi mềm thì còn mãi đến khi hàm răng cứng đã rụng hết. Cho nên ở đời, biết nhường, biết mềm nhiều khi lại là cái khôn bền hơn cả.
Bậc thầy lớn nhất của Lão Tử lại chính là nước. Nước là thứ mềm yếu nhất trong thiên hạ, lúc nào cũng nhún nhường, cũng tìm về chỗ thấp mà người đời ai cũng chê; vậy mà nó xuyên thủng được đá, cuốn trôi được thành lũy, rốt cuộc không gì thắng nổi.
Cũng vì một mực chuộng cái thuận theo tự nhiên mà Lão Tử rất trọng những bước nhỏ, thong thả. Ông bảo việc khó trong thiên hạ đều bắt đầu từ chỗ dễ, việc lớn đều bắt đầu từ chỗ nhỏ; người khéo biết lo liệu ngay từ khi sự còn chưa thành hình, chứ chẳng đợi nước tới chân mới nhảy. Đừng ham vác cả quả núi một lúc cho nặng vai; cứ nhẫn nại từng chút một, rồi việc tày trời cũng có ngày nên.
Đường đi ngàn dặm bắt đầu từ một bước chân
Cái lẽ xoay vần
Sách của Lão Tử gọi là Đạo Đức Kinh, mà nãy giờ ta mới bàn chữ Đạo, còn chữ Đức thì chưa nói tới. Đức ở đây không phải đức hạnh theo lối nhà Nho, mà là cái phần Đạo gửi vào trong mỗi vật, khiến nó thành ra chính nó — như trong hạt mầm đã sẵn cái thế sẽ thành cây. Đạo sinh ra muôn vật, Đức nuôi lớn muôn vật; cho nên sống có Đức, nói cho gọn, là sống cho đúng với cái bản tính trời cho, chẳng tô vẽ, chẳng gắng gượng hóa thành kẻ khác.
Nhìn vào cách Đạo vận hành trong trời đất, Lão Tử rút ra một quy luật: phản giả Đạo chi động — hễ đi đến cùng thì quay trở lại. Trăng tròn rồi khuyết, nước lên rồi xuống, lá xanh rồi rụng về cội. Cái gì bị đẩy tới chỗ tột bậc cũng tự nó lật sang bề ngược: nắng lắm ắt mưa nhiều, vui quá hóa buồn, mạnh đến cực thì đã ngầm chứa cái mầm của suy. Vì trông thấy lẽ ấy nên ông dạy người ta biết đủ thì dừng (tri túc), chớ tham cho tới chỗ cùng, bởi chỗ cùng cũng là chỗ bắt đầu của lụi tàn; và hễ việc đã thành thì nên lui mình ra, đừng cố ngồi lại ôm lấy cái danh — y như vầng dương đứng bóng rồi là xế.
Đã vậy thì họa với phúc cũng chẳng phải hai bờ tách bạch, mà nương vào nhau: trong cái rủi đã nấp sẵn cái may, trong cái may đã ngầm mầm cái rủi. Ấy là cái lẽ về sau người ta gói vào câu chuyện tái ông mất ngựa mà đến trẻ con nước mình cũng thuộc. Hiểu được vậy thì lúc gặp may không đến nỗi ngông nghênh, khi gặp rủi cũng chẳng vội ngã lòng, cứ một mực điềm tĩnh mà nhìn sự đời xoay vần.
Phép trị nước: buông để yên
Đem cái đạo vô vi ấy ra trị nước thì thành một lối cầm quyền ngược hẳn thói thường. Vua chúa xưa nay vẫn đinh ninh rằng càng ra nhiều lệnh, đặt nhiều phép, siết càng chặt thì nước càng yên; Lão Tử bảo trái lại — người cầm quyền càng vẽ vời, xoay xở, thì dân lại càng rối. Trị nước lớn cũng như nấu con cá nhỏ, cứ trở đũa luôn tay thì cá nát. Ông vua giỏi nhất, theo Lão Tử, là ông vua mà dân hầu như quên mất là có: việc trong nước cứ êm ru trôi chảy, đến khi nên công thì trăm họ đều bảo “tự nhiên nó thế”, chứ chẳng nghĩ là nhờ ai. Cái cảnh ông mơ tới là một nước nhỏ, dân thưa, ăn no mặc ấm, sống yên với nhau, chẳng tất tả đua chen đi đâu cho xa.
Lối nghĩ ấy về sau quả có lúc thành quốc sách. Đầu đời Hán, sau bao năm binh lửa, vua tôi theo thuật Hoàng–Lão mà nới sức dân: bớt thuế, giảm hình, để trăm họ nghỉ ngơi — chẳng mấy chốc kho lẫm lại đầy, nước lại giàu. Vậy nên cái “vô vi” tưởng chỉ là chuyện của kẻ ẩn sĩ, hóa ra cũng là một phép trị đời rất thực.
Lão Tử trên đất Việt
Đạo của Lão Tử theo đường sách vở phương Bắc mà sang ta từ rất sớm, song cần phân biệt hai ngả. Một là Đạo gia — cái triết học Lão–Trang bàn về Đạo, về vô vi, mà kẻ sĩ tìm trong sách. Hai là Đạo giáo — thứ tôn giáo đời sau dựng nên, tôn Lão Tử làm Thái Thượng Lão Quân, lập đền thờ, vẽ bùa, luyện đan cầu sống lâu. Đạo giáo sang ta thì quyện vào tín ngưỡng dân gian — thầy cúng, thầy phù thủy, tục thờ thần — nay đã phai nhạt nhiều; còn cái Đạo gia ngấm vào hồn kẻ sĩ thì để lại dấu bền hơn cả.
Người mình xưa vẫn nói nước Việt theo tam giáo: Nho, Phật, Lão cùng chung một mái mà đỡ đần nhau. Nhà Nho lo nhập thế, lấy lễ nghĩa gánh vác việc đời; nhà Phật chỉ đường giải thoát; còn nhà Lão dạy người ta, lúc mỏi gối chồn chân giữa chốn quan trường, biết đường lui về với tự nhiên mà giữ cho cái tâm thanh thản. Vì thế kẻ sĩ nước ta phần nhiều một đời mang sẵn hai tấm lòng: gặp thời thì ra giúp nước như học trò Khổng Tử, lỡ vận thì lui về vườn ruộng như môn đồ Lão Trang.
Cái thú ẩn dật ấy chảy thành cả một mạch lớn trong thơ văn. Nguyễn Trãi cáo quan về Côn Sơn, nghe tiếng suối mà ngỡ tiếng đàn, ngồi trên đá rêu như ngồi trên chiếu êm. Rõ hơn cả là Nguyễn Bỉnh Khiêm — người đời tôn là Trạng Trình, tự lấy hiệu Bạch Vân cư sĩ — đã gói cả cái đạo sống thuận tự nhiên vào mấy câu thơ Nôm mộc mạc:
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn người đến chốn lao xao.
Cái “dại” ông tự nhận đó chính là cái khôn của Lão Tử: lánh chỗ giành giật, tìm nơi tĩnh lặng, coi giàu sang phú quý cũng chỉ như một giấc chiêm bao. Từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm cho đến Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến về sau, hễ trong thơ thấp thoáng chữ “nhàn” và cái mộng về với cây cỏ ruộng vườn, ấy là bóng ông già cưỡi trâu vẫn còn phảng phất trên đất Việt.
Hai mươi sáu thế kỷ đã trôi qua, mà những lời ông để lại nghe vẫn còn thấm thía. Người ta ở đời phần nhiều tự chuốc lấy cái khổ vì cứ gắng cưỡng lại lẽ tự nhiên: muốn đi nhanh hơn cái nhịp vốn có, muốn giữ mãi cái đang tàn, muốn nắm chặt trong tay cái vốn đến rồi đi. Lão Tử không dạy ta khoanh tay phó mặc; ông chỉ nhắc rằng ở đời có những việc càng gắng lại càng hỏng, có những điều cứ để yên rồi tự nên. Biết chỗ nào nên ra sức, chỗ nào nên buông tay — ấy mới là cái khôn khó học nhất của một đời người. Cho nên bậc hiểu Đạo không gắng tranh với dòng nước mà lặng lẽ xuôi theo nó, không vật lộn với cuộc đời mà sống cho hợp với cái nhịp của trời đất.
Nguồn câu trích: Đạo Đức Kinh, chương 64