Jean-Jacques Rousseau, người gốc thành Genève, sinh đầu thế kỷ mười tám, xưa nay vẫn được kể là một trong những bộ óc lớn của thời Khai sáng. Có một giai thoại thường được nhắc lại về buổi đầu sự nghiệp của ông. Ấy là một chiều thu năm 1749, trên đường từ Paris tới nhà ngục Vincennes thăm người bạn Diderot đang bị giam, chàng nhạc công nghèo giở tờ báo ra, chợt đọc thấy câu hỏi treo giải của Viện hàn lâm Dijon: sự tiến bộ của khoa học và nghệ thuật có khiến đạo đức con người tốt lên hay không? Ông kể rằng mình choáng váng đến phải ngồi sụp xuống gốc cây, nước mắt giàn giụa. Cả thời đại Khai sáng quanh ông đều một mực đáp rằng có; riêng ông viết bài luận trả lời rằng không — và đoạt ngay giải nhất.
Từ cái trực giác buổi đầu ấy mà dần lớn lên cả một hệ tư tưởng. Con người trong trạng thái tự nhiên, theo Rousseau, vốn chẳng phải kẻ man rợ hung tàn: anh ta tự lo lấy thân bằng lòng tự yêu lành mạnh (amour de soi), lại biết chạnh lòng thương xót đồng loại. Phải đến khi có xã hội mới nảy ra cái thứ độc hại kia, ấy là lòng tự ái hay so đo (amour-propre) — cái nhu cầu cứ muốn hơn người, muốn được người ta nhìn nhận. Cho nên từ lúc biết đem mình ra so với kẻ bên cạnh, con người bắt đầu sống ở bên ngoài chính mình, sống trong con mắt thiên hạ: nào đua tranh, nào đố kỵ, nào đeo mặt nạ với nhau — những thứ xiềng xích vô hình cứ thế mà siết dần lại. Thế mới thấy, cái trói buộc con người ngặt nhất nhiều khi chẳng phải gông cùm bên ngoài, mà là lòng hiếu thắng ở bên trong.
Nhưng Rousseau không hề rủ ai bỏ phố về rừng, bởi xưa nay làm gì có đường lùi. Lối thoát, theo ông, nằm ở phía trước: ấy là viết lại cho đúng bản khế ước xã hội. Quyền lực chính đáng vốn không đến từ Trời, cũng chẳng đến từ sức mạnh, mà đến từ ý chí chung (volonté générale) — tức cái ý muốn của cả cộng đồng cùng hướng về lợi ích chung, do chính người dân chung tay lập nên. Vì lẽ đó, khi ta tuân theo thứ luật mà chính mình đã góp phần làm ra, ta nào có mất tự do; trái lại, ta được tự do ở nghĩa sâu xa nhất, ấy là tự mình đặt luật cho mình.
Ngọn lửa và bóng tối của nó
Mười một năm sau ngày ông mất, Cách mạng Pháp bùng nổ trên những khẩu hiệu đậm hơi hướng Rousseau: chủ quyền thuộc về nhân dân. Có điều, ngay trong sách Khế ước xã hội, Rousseau đã hạ một câu mà về sau gây tranh cãi không dứt: kẻ nào không chịu thuận theo ý chí chung thì sẽ bị cả cộng đồng “cưỡng cho phải tự do”. Ý ông vốn lành: ràng người ta vào cái luật chung cũng tức là gỡ cho họ khỏi cảnh lệ thuộc ý riêng của bất cứ ai. Nghe thì cao đẹp, mà ngẫm cho kỹ lại thấy rợn, bởi một khi đã có kẻ tự phụ rằng mình thấu cái ý chí chung tỏ tường hơn cả người trong cuộc, thì sự nhân danh tự do mà cưỡng ép kẻ khác cũng chẳng còn xa là mấy. Quả nhiên, cái “ý chí chung” cao đẹp ấy sớm để lộ mặt trái của nó: Robespierre nhân danh nó mà dựng lên máy chém, để rồi người đời nhận ra rằng một ý niệm dù cao quý đến đâu cũng có thể hóa thành khí giới sắc bén, một khi rơi vào tay kẻ tự nhận mình là hiện thân của nó. Sinh thời, cùng năm cho ra Khế ước xã hội (1762), Rousseau còn viết cuốn Émile, bàn việc nên để trẻ thơ lớn lên cùng thiên nhiên và sự từng trải, thay vì chỉ có roi vọt với sách đèn — một lẽ về sau đặt nền cho cả nền giáo dục hiện đại.
Kẻ đầu tiên rào một mảnh đất lại mà bảo ‘của tôi đây’, rồi gặp được những người nhẹ dạ chịu tin, ấy mới thật là ông tổ của xã hội văn minh
Cái lòng tự ái hay so đo ấy, thời nay chẳng những không mất đi mà còn gặp được mảnh đất màu mỡ hơn xưa bội phần. Cứ mở chiếc điện thoại trong túi ra thì rõ. Mạng xã hội có lẽ là cỗ máy khơi cái lòng so đo khéo léo bậc nhất mà con người từng bày ra: ta ngồi đếm từng lượt người ngoài bấm thích, ta dựng lên một hình ảnh hào nhoáng nhất của đời mình để cho người lạ chấm điểm, ta sống trọn trong con mắt thiên hạ đúng như lời Rousseau mô tả thuở nào. Có khác chăng, là ngày nay con mắt ấy nằm gọn ngay trong túi áo ta, và sáng đèn cả những lúc nửa đêm. Thế mới thấy, lời người xưa cảnh tỉnh về cái lòng so đo, trải mấy trăm năm vẫn còn nguyên giá trị.
Nguồn câu trích: Luận về nguồn gốc bất bình đẳng (1755), mở đầu Phần Hai